SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
TRANG THƠ
BỘ LỄ
TỪ THIỆN
DỊCH THUẬT
THƯ VIỆN
THÁNH GIÁO
BÀI VIẾT
abc
ĐƯỜNG THI LƯU KÝ 4...
ĐTLK 4
(301 - 350)
351. Hòa đàn
352. Thanh và trược
353. Tà và Chánh
354. Đàn trăng thức gọi
355. Xuân mộng canh trường
356. Mật chỉ truyền tâm
357. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 1 )
358. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 2 )
359. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 3 )
360. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 4 )
361. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 5 )
362. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 6)
363. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 7)
364. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 8)
365. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 9)
366. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 10)
367. Hòa vận Bát Tiên( Bài 11)
368. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 12)
369. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 13)
370. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 14)
371. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 15)
372. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 16)
373. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 17)
374. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 18)
375. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 19 )
376. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 20 )
377. Chúc Xuân
378. Táo Quân
379. Tấm Cám
380. Mèo lại huờn Mèo
381. Chim Quấc
382. Sơn Tinh Thủy Tinh
383. In màu kỷ niệm
384. Thơ con Muỗi ( Bài 1)
385. Thơ con Muỗi ( Bài 2)
386. Thơ con Muỗi ( Bài 3 )
387. Thơ con Muỗi ( Bài 4 )
388. Thơ con Muỗi ( Bài 5 )
389. Thơ con Muỗi ( Bài 6 )
390. Thơ con Muỗi ( Bài 7 )
391. Thơ con Muỗi ( Bài 8 )
392. Thơ con Muỗi ( Bài 9 )
393. Thơ con Muỗi ( Bài 10 )
394. Khuôn viên thọ học
395. Tịnh Tâm Tối Thượng
396. Thập nhị Thuần Dương
397. Hội Kiến Pháp Môn
398. Tri huyền Quang
399. Thông Thiên Nhĩ
400. Hạo nguơn Khí
351. Hòa đàn
Đàn trỗi xự, u, cống, xễ, lìu,
Xừ, hò, oan, cộng, ú, xang, liu.
Âm thanh uyển chuyển lời tinh biếc,
Dương điệu dịu dàng, ý tuyệt siêu.
Nhạc khúc giáng thăng cùng định hướng,
Hòa giao trầm bỗng vẫn chung chiều.
Bầu, tranh, cò, sến, gi, kiềm, gáo,
Vĩ, hạ đồng thông bản nhịp đều.
352. Thanh và trược
Thanh trược là do ở tự lòng,
Lẽ nào thanh có, trược rằng không.
Trược thanh do luyện, đâu rằng pháp,
Thanh trược nhờ trau, chớ tưởng công.
Lọc trược trong thanh, tâm bất động,
Lưu thanh ở trược, ý tinh trong.
Trược thanh giả định thông nguồn điển,
Lý nhiệm huyền cơ điểm Đại Đồng.
353. Tà và Chánh
Thành Phật thành Ma cũng tại ta,
Có đâu rằng Phật lại rằng Ma.
Bởi tâm thường vọng nên lầm chánh,
Vì tánh hằng mê mới lạc tà.
Tà chánh viên thông, đồng nhất bổn,
Chánh tà diệu giác, hiệp nguyên gia.
Chơn như thanh tịnh không phân biệt,
Hiệp nhứt tùy duyên kiến Phổ Đà.
354. Đàn trăng thức gọi
Đôi giòng đề cảm tiếp Đông quân,
Tình vẫn chia xa vẫn mãi gần.
Nhạc gió kêu sầu, mau nghiệm cổ,
Đàn trăng thức gọi khá suy tân.
Tìm vui hướng Đạo, vui miên viễn,
Nhận khổ đường tu, thoát khổ dần.
Bút mặc tâm giao vì nghĩa cả,
Chang hòa sâu sắc đậm tình xuân.
355. Xuân mộng canh trường
Xuân đã bao lần vẫn tiếp qua,
Kiếp người gẩm lại chẳng bao xa.
Phù sanh trãi bấy, nghe đau đớn,
Ảo mộng bừng cơn, giọt lệ nhòa.
Lẩn quẩn trong đời, hoằng nghĩa mẹ,
Lanh quanh cõi thế, nặng ơn cha.
Công danh phú quí ai lòng thỏa,
Mọi việc đều do luật định mà.
356. Mật chỉ truyền tâm
Bổn thiện nguồn ân cõi Thánh anh,
Thừa ban điểm giáo thọ ân lành.
Quy Tam hóa chuyển thông đơn Đạo,
Hiệp Ngũ luân khai đạt phẩm danh.
Đoạt giả, đoạt chơn từ ý tịnh,
Ngộ viên, ngộ giác tại tâm thanh.
Siêu linh hiển hích cơ mầu diệu,
Mật chỉ truyền tâm pháp vận hành.
Hòa vận Bát Tiên
(Bài nầy do Hà Việt họa lại bài Hội Bát Tiên của 8 thi hữu Lệ Khánh, Thanh Trúc, Phong Linh, Hoàng Triều, Thanh Cao, Aùi Nhân, Thanh Phong, Nhật Lệ ).
Bài xướng : Hội Bát Tiên
Lệ Khánh : Không hẹn mà tròn hội Bát Tiên,
Thanh Trúc : Chung nhau “ 8 trự” đã thành hiền.
Phong Linh : Tiên xưa sao sánh Tiên thời đại,
Hoàng Triều : Thánh núi sao bằng Thánh mái hiên.
Thanh Cao : Nhấp nhấp chén hồng say lúy túy,
Aùi Nhân : Ngây ngây vần biếc nổ liên miên.
Thanh Phong : Lay lay cành lá hanh vàng nắng,
Nhật Lệ : Nằng nặng nàng thơ Đạo khẩm thuyền.
357. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 1 )
Cảnh trần nay bỗng hội thơ Tiên,
Tình tứ mê ly quá các hiền ?...
Rượu thắm mềm môi, chừng trước cửa,
Men say nồng cháy, khéo ra hiên.
Ngây ngây khói tỏa, hoa tung toé,
Ngất ngất mây trời, pháo nổ miên.
Tiệc mãn tình lưu, trời đất biết !
Còn thơ hay nhạc! Bạn hay thuyền ! ?...
358. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 2 )
Hay thuyền thử một chuyến du Tiên,
Ai dám dự thi chẳng phải hiền !
Rượu với Lão Quân nơi Bửu Điện,
Thơ cùng Thái Bạch tại Kim Hiên.
Diêu Cung dự yến, thêm trường thọ,
Bạch Ngọc hội xuân, tuổi viễn miên.
Tửu cúc, đào nương hòa nhạc Thánh,
Hồn xuân phơi phới chắc quên thuyền ?...
359. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 3 )
Quên thuyền ở lại cảnh Thần Tiên,
Còn nhớ hay chăng những bạn hiền ?
Lần thấy Táo tâu nơi Ngọc Điện,
Lén nghe Phật thuyết tại Tòa Hiên.
Nói về sự thế nhiều đen đỏ,
Bàn chuyện dương trần quá mộng miên.
Mặc sức model ôi ! đủ kiểu,
Bạn hàng tấp nập lắm con thuyền.
360. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 4 )
Con thuyền hút chích gọi thuyền Tiên,
Hối lộ quan liêu kết bạn hiền.
Rượu độc truyền đi, còn để nổi,
Thuốc mê rao bán, dấu ngoài hiên.
Văn minh khoa học trưng bày thuật,
Tiến bộ điện cơ lấp ráp miên.
Nghe Táo tâu qua nơi chính điện,
Ngọc Hoàng lo sợ những phi thuyền.
361. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 5 )
Phi thuyền đã gặp Hằng Nga Tiên,
Nơi một vầng trăng giả ý hiền.
Để được lấp bằng, dầu sỏi đá,
Hầu toan đoạt cả, dẫu ranh hiên.
Dĩa bay ào ạt nhờ sân thượng,
Người máy vụt vù mượn cảnh miên.
Minh kính đài gương xem hạ giới,
Chỉ thương cho các chủ con thuyền.
362. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 6)
Con thuyền nào cũng bởi căn Tiên,
Đến trước hay sau vẫn bậc hiền.
Vì cửa, vì nhà đành ẩn sĩ,
Bởi mây, bởi gió phải ra hiên.
Trí nhân dẫu trải điều tai biến,
Quân tử chi sờm sự khổ miên.
Thời mạng hậu tiền duy đức cả,
Luôn theo nhịp tiến hợp duyên thuyền.
363. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 7)
Duyên thuyền dù phải cách xa Tiên,
Vẫn có chư linh hộ hữu hiền.
Nào ngại gió mưa nơi trái bếp,
Xá gì giông bão ở thềm hiên.
Qua bao thử thách thời chinh chiến,
Vượt sự mê lầm ám ảnh miên.
Sau những phút giây suy ngẫm lại,
Ngọc Hoàng gợi ý: -“hãy du thuyền”.
364. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 8)
Du thuyền cõi thế điểm lời Tiên,
Răn kẽ tà gian, độ sĩ hiền.
Bắc Đẩu Nam Tào phò triệu giá,
Đế Thiên Đế Thích ứng môn hiên.
Lời tâu Thái Ất bàn phương Việt,
Ý bạch Bát Tiên luận cảnh Miên.
Khi mới nghe qua rằng “8 trự”,
Thì đây đã rõ nghiệp thơ thuyền.
365. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 9)
Thơ thuyền xướng họa đáp lời Tiên,
Ngọc Đế nghe qua rõ mỗi hiền.
Đã có Bát Tiên phò triệu giá ?
Sao còn Tiên Bát trấn Tây Hiên ?
Vì đâu cảm tác toàn dương thế,
Lại phải hòa thi cả sự miên.
Hay nghiệp nước non còn nặng gánh,
Thời thôi cõi giả kíp lui thuyền.
366. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 10)
Lui thuyền cho nhắn những lời Tiên,
Về cõi trần gian chỉ sự hiền.
Thánh Thượng khuyên đời gìn bổn thiện,
Mẫu Hoàng dạy thế chớ mê hiên.
Sau khi bái biệt đài Kim Khuyết,
Cùng lúc tạ từ cảnh Viển Miên.
Khánh, Trúc, Linh, Triều, Cao đủ mặt,
Cùng Nhân, Phong, Lệ phản hồi thuyền.
367. Hòa vận Bát Tiên( Bài 11)
Hồi thuyền dương thế đất Rồng Tiên,
Vẹn nghĩa, tròn ân , đẹp hiếu hiền.
Chí cả sáng ngời không cách ngõ,
Tâm tình cởi mở chẳng xa hiên.
Mặn nồng sắc nước luôn trùng viễn,
Ấm áp màn mây mãi vạn miên.
Thơ phú âm vang nguồn tuệ khiếu,
Niềm tin rực rở đáng phương thuyền.
368. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 12)
Phương thuyền chuẩn bị thật là Tiên,
Tiếp mở chuyến đi ngộ hữu hiền.
Kết mối Đại Đồng, bừng thể Việt,
Hòa tình Đại Thể, sáng danh hiên.
Đông Tây nghiên cứu luôn thời mộng,
Kim cổ nghiệm tàng cả đoạn miên.
Tô thắm sắc hương đời mãi đẹp,
Vòng quanh thế giới chiến công thuyền.
369. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 13)
Công thuyền phân biệt tục và Tiên,
Chơn giả do tâm đóan dử hiền.
Nam Việt, Nam Dương, Dinh, Phủ, Điện,
Quốc Trung, Mỹ Quốc, Các, Thành, hiên.
In Đô, Nhật, Đức, Cao Li, Thổ,
Ấn Độ, Tàu, Anh, Thụy Sĩ, Miên.
Hi Lạp, Hà Lan, Nga, Pháp, Thái,
I Răn, I Rắc, Lỗ, Cam thuyền.
0. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 14)
Cam thuyền Hung, Áo lại Triều Tiên,
Lần đến Ba Tư rõ bạn hiền.
Ha Núc, Bồ Đào nghe đón tiếp,
Na Đa, Ái Nhĩ được khai hiên.
Cao Phi, Phi Luật thêm lào luật,
Miến Điện, Cao Miên thật ý miên.
Và Argentina là nước,
RaXin tiếp nối cũng như thuyền.
371. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 15)
Như thuyền quanh quẩn mấy vòng Tiên,
Từ khắp Đông Tây kết bạn hiền.
Càng thấy xa quê, bao dạ dũng,
Lắm nghe nhớ nước, những lòng hiên.
Dẫu người phân biệt, khôn g lời phán,
Mặc thế đua tranh, chẵng nói miên.
Rút kết tinh hoa từ các nước,
Góp phần Tổ Quốc nghiệp cơ thuyền.
372. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 16)
Cơ thuyền nguồn máy của Thần Tiên,
Nên lắm tôi trung, bậc Thánh hiền.
Trãi mấy nghìn năm, ôm nhiệt quyết,
Qua bao niên kỷ, chiến công hiên.
Kẻ gieo nô lệ cam nhường bước,
Người mộng xâm lăng vỡ mộng miên.
Để Việt Nam ta luôn tiến mãi,
Vượt bao sóng gió lập nên thuyền.
373. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 17)
Nên thuyền đối chiếu sử Tàu Tiên,
Võ, Hạ còn lưu mấy bậc hiền.
Vận bỉ,Trụ Vươngđành phải mạc,
Thời lai, Cơ Phát chẵng sai hiên.
Xuống trần, Lão Tử đề cơ ứng,
Hạ thế, Khổng Khâu luật tỏa miên.
Nam Việt bốn nghìn năm hấp thụ,
Càng nung chí khí một kim thuyền.
374. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 18)
Kim thuyền chở nặng khách duyên Tiên,
Nhân nghĩa thủy chung, việc hiếu hiền.
Trong cuộc thử thi, người được điểm,
Ở phần tuyển chọn, kẻ ra hiên.
Vòng quanh thơ luận, tinh tinh viễn,
Giáp lại đề chương, tuyệt tuyệt miên.
Văn toát lên trời sang thế giới,
Giờ đây trở lại Việt Nam thuyền.
375. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 19 )
Nam thuyền từng bước lập công Tiên,
Mượn điểm thi ca kết nghĩa hiền.
Mừng hội Ninh Kiều ngời hiển đạt,
Vui thơ An Nghiệp tuyệt danh hiên.
Con người nếp sống luôn tân tiến,
Xã hội văn minh mãi viễn miên.
Chung góp sức công nâng bút điển,
Cùng nhau tô điểm bản linh thuyền.
376. Hòa vận Bát Tiên ( Bài 20 )
Linh thuyền ôn sử Lạc Hồng Tiên,
Mười tám Hùng vương nối chí hiền.
Tiếp có Đinh, Lê danh tráng kiệt,
Cũng như Trần, Lý bậc danh hiên.
Trãi bao thời Chúa, văn siêu việt,
Lại mấy đời Vua, sử tuyệt miên.
Nay đến thời lai, qua vận bỉ,
Nhớ ơn các bậc lái con thuyền.
377. Chúc Xuân
Mừng xuân kính chúc vạn thời lai,
Lộc, thọ, khương, ninh, phước, lợi, tài.
Nghệ sĩ lời hoa, hương ngát tỏa,
Văn nhân ý đẹp, vị thơm bay.
Hăng say sản xuất đồng kiên quyết,
Tích cực tăng gia hiệp triển khai.
Nghĩa Đạo tình xuân thêm thắm đượm,
Lòng nghe rộn rả nhớ bao ngày!...
378. Táo Quân
Để lại đẹp ngời chuyện Táo Quân,
Vì đâu đã được lệ chầu xuân.
Lửa hương tâm thệ bền muôn kiếp,
Ấm áp giao duyên đẹp mãi tuần.
Cay đắng mặn nồng, chồng chết thảm,
Hờn thương sâu nặng, vợ vong thân.
Thêm người tình cũ sầu ly biệt,
Để lại đẹp ngời chuyện Táo Quân.
379. Tấm Cám
Chuyện xưa nhắc lại một đôi trang,
Tấm Cám cũng bài học thế gian.
Người chị cùng cha, nhiều đức hậu,
Đứa em khác mẹ, lắm tham tàn.
Em thì ngã gục vì nhân trả,
Chị lại vươn lên bởi phúc ban.
Kế mẫu mưu thâm đành họa diệt,
Còn đây dạ sắt hợp lòng vàng.
380. Mèo lại huờn Mèo
Giờ đây diệt chuột phải ra mèo,
Chớ ỷ phận mình cứ giỏi leo.
Trời rộng bao la, lòng vọng tưởng,
Mây giăng trùm khắp, dạ trèo đèo.
Nhưng mây gặp gió đành di tản,
Lại gió gặp thành cũng hết reo.
Thành trụ rung rinh do lũ chuột,
Giờ đây diệt chuột phải ra mèo.
381. Chim Quấc
Nhớ lại thuở nào Quấc với Nhân,
Buồn vui chia sẻ học chuyên cần.
Ngờ đâu nông nỗi sầu tri kỷ,
Lại phải hiểu lầm hởi bạn thân.
Nghĩa đó đau lòng kêu Quấc Quấc,
Tình đây xót dạ gọi Nhân Nhân.
Còn chi đâu nữa xa biền biệt,
Để mãi lời kêu thật não nần.
382. Sơn Tinh Thủy Tinh
Thời Hùng xuất hiện nhị kỳ Tinh,
Ứng cuộc tranh tài việc cưới xinh,
Thủy Chúa chậm chân đành lỡ mộng,
Sơn Thần nhanh bước vẹn duyên tình.
Kẻ thua biến thủy tàn ly loạn,
Người thắng hô sơn giữ thái bình.
Nhưng sắc Mỵ Nương ôi! Lắm cảnh,
Hằng năm lũ lụt, cảnh điêu linh.
383. In màu kỷ niệm
Vừa hay nhận được một đôi hàng,
Thơ phú thâm tình đã chuyển sang.
Cám nghĩa Văn nhân, trăng bến Hậu,
Đáp tình Thi hữu, cảnh Trà Giang.
Ngày xuân sắp đến, hoa tua tủa,
Hội tết gần bên, nắng chảng chang.
Cảnh sắc hữu tình, tình biết mấy,
In màu kỷ niệm viết nên trang.
384. Thơ con Muỗi ( Bài 1)
Giữa thời loạn lạc cảnh điêu linh,
Ác quỉ đâu đâu cũng hiện hình.
Ám khí phủ giăng đầy chiến lủy,
Mê hồn rên rỉ khắp thành dinh.
Chúng mong hút máu người lương thiện,
Chúng muốn moi xương kẽ bất bình.
Nên khắp nước non đều xuất hiện,
Lứơi thần, quạt phép chống yêu tinh.
385. Thơ con Muỗi ( Bài 2)
Yêu tinh thách thức bảo nằm yên,
Nếu lọt ra ngoài khỏi lưới thiên.
Kẽ tỉnh thời hay nhừ mặt cả,
Người mê cũng phải nát thân liền.
Dầu tung nguyên tử không xao động,
Há nổ đạn bôm phải ngữa nghiêng.
Ai cũng cam điều châm chít ấy,
Khiến nên máu đổ, khổ triền miên.
386. Thơ con Muỗi ( Bài 3 )
Triền miên thảm cảnh nước non nhà,
Kẻ hút máu người cứ hiện ra.
Thuốc độc dễ sanh nhiều ác quỉ,
Bùa mê dễ tạo lắm yêu ma.
Lưới thần nhuộm máu nam cùng nữ,
Quạt phép in xương trẻ lẩn già.
Vẫn giọn ù u cười ngạo nghễ,
Trước Quân ,Thần, Tướng hoặc Vương gia.
387. Thơ con Muỗi ( Bài 4 )
Vương gia đài các hoặc cung đình,
Hoàng hậu Công nương chốn điện kinh.
Ai cũng trung trinh vua với chúa,
Nhưng không tiết liệt quỉ và tinh.
Mặt cho yêu nghiệt bày hun hích,
Kệ kẽ tà gian cứ rập rình.
Đâm thọc nhiều bề gây tác tệ,
Khiến cho máu đổ lụy thân mình.
388. Thơ con Muỗi ( Bài 5 )
Thân mình cũng phải liệu phăng tìm,
Yêu nghiệt từ đâu cứ hiển nhiên.
Gây ác dầu ai đau nhức nhối,
Gieo phiền dẫu chúng chết vô biên.
Thân gầy, cánh mỏng, gầy như chỉ,
Mỏ nhọn, hình đen, nhọn tợ kim.
Được thế tấn công càng mảnh liệt,
Máu người mãi miết hút như giềng.
389. Thơ con Muỗi ( Bài 6 )
Như giềng cái chuyện quá hôi tanh,
Nhứt ở thôn quê, nhị thị thành.
Rác rến bùn lầy nhiều quỉ đói,
Cỏ rom bẩn thiểu lắm ma ranh.
Nhà không thoáng mát càng phương tiện,
Đất chẵng cải canh dễ lộng hành.
Chúng chỉ ngại đời càng tiến bộ,
Nơi nào cũng có sạch và xanh.
390. Thơ con Muỗi ( Bài 7 )
Và xanh với sạch khắp con đường,
Làm chúng không còn chỗ náo nương.
Ép quỉ vào nơi sâu cống rảnh,
Dồn ma ở phía tận đường mương.
Đêm bay ào ạt còn kêu hảnh,
Ngày hát ù u vẽ tự cường.
Khoa học bày ra nhiều loại thuốc,
Nhan linh khói tỏa chống ma vương.
391. Thơ con Muỗi ( Bài 8 )
Ma vương vẫn mãi hiện trên đời,
Cỏ rác bụi bùn sạch có nơi.
Công nghiệp là phương cần ẩn náo,
Nông trường là điểm dễ sanh sôi.
Cũng do thoán khí chưa cần mẫn,
Vì bởi vệ sinh chẳng kịp thời.
Điểm chứa lăng quăng còn tụ điểm,
Ma còn giởn mặt, quỉ còn chơi.
392. Thơ con Muỗi ( Bài 9 )
Còn chơi ác độc gắp trăm lần,
Chích bệnh di truyền sốt rét thân.
Lắm kẽ vướng vào, tê mặt mũi,
Nhiều người mắc phải, liệt tay chân,
Thị thành hướng mới đang từng bước,
Đồng án đổi thay đã tiến lần.
Nhất định có ngày mang chiến thắng,
Không còn yêu quỉ hại người dân.
393. Thơ con Muỗi ( Bài 10 )
Người dân cam khổ đã lâu rồi,
Vô cớ bị loài quỉ bẩn hôi.
Hút máu lắm lần, dòng máu đổ,
Moi xương mấy lược, khớp xương lồi.
Lưới thần, quạt phép đồng tâm nhất,
Thuốc mới, nhang linh hiệp lực rồi.
Chuyển sạch và xanh toàn khắp nước,
Yêu ma tự diệt, đẹp vui đời.
394. Khuôn viên thọ học
-Giữ hạnh người tu phải gắng ghi,
-Văn nho tầm học tiếp ân kỳ.
-Nêu cao quang điển ngời phương định,
-Vững một niềm tin rạng lối đi.
-Rèn luyện pháp tâm thông bổn chuyển,
-Thọ hành nhiệm ý ứng cơ qui.
-Tinh thần rộng rãi tình thương khắp,
-Hội kiến pháp môn -Tâm pháp thi.
395. Tịnh Tâm Tối Thượng
Tịnh Tâm Tối Thượng pháp vô vi,
Thiền giả hành chuyên chớ huởn trì.
Nền tảng thành công nhờ thấu suốt,
Nấc thang tiến hóa điểm minh tri.
Tập hơi thở chậm, theo phương định,
Tạo máy điển đều, đúng bảng ghi.
Báu nhiệm nơi mình luôn vẹn giữ,
Đừng cho thố lộ kẽo hao đi.
396. Thập nhị Thuần Dương
Thập Nhị Thuần Dương chuyển thượng hành,
Thêm ngời trí tuệ, huệ tâm thanh.
Kim thân muôn thuở là chơn vị,
Thánh thể vững bền mới thật danh.
Bửu Pháp sáng soi tròn sứ mạng,
Tàng thơ điểm chuyển vẹn căn lành.
Nâng cao đơn Đạo thông thời nhiệm,
Nguyên Lý Đại Đồng kịp tiến nhanh.
397. Hội Kiến Pháp Môn
Trong phần Pháp chuyển sáng như tờ,
Hội Kiến Pháp môn tự thuở sơ.
Ôn lại lý hành theo Bửu Pháp,
Nhắc qua động tác đúng Tàng Thơ.
Tịnh Tâm cho tốt không sai hướng,
Kiểm thể cho nghiêm chẳng trễ giờ.
Thường lệ theo đà nâng trí Đạo,
Tỏa ngời ấn chứng rạng linh cơ.
398. Tri huyền Quang
Tri Huyền Quang luyện điển song mâu,
Thần Điển sáng trong rất diệu mầu.
Khiếu giác nhiếp thông đều tại đỉnh,
Nguồn linh khai ẩn cũng do đầu.
Bế quang theo hướng thâu và chuyển,
Khai nhãn cùng phương chuyển lại thâu.
Thực hiện cả hai cho trọn đủ,
Tăng phần hiệu quả khỏi chờ lâu.
399. Thông Thiên Nhĩ
Thông Thiên Nhĩ chỉ sự Tinh ngời,
Thính giác mở đường các mạch hơi.
Nên rõ tâm an thì trọn đủ,
Cần hay trí định mới không vơi.
Thuận vòng Bát Quái sang bờ giác,
Nghịch giáp Trung Cung chuyển lại nơi.
Nếu biết tồn Tinh cho đúng cách,
Kim Thân nhờ đó vững muôn đời.
400. Hạo nguơn Khí
Hạo Nguơn Khí lực hấp hô hòa,
Lấy pháp môn hầu phóng xuất ra.
Một cõi hư linh mình có cả,
Một bầu vũ trụ cũng do ta.
Âm Dương thuận nghịch ngời linh huệ,
Đời Đạo chuyển xoay tuyệt phẩm hoa.
Hiển hóa tựu đài Tam Thế Phật,
Ân lành chan rãi khắp bao la.