2.- LỄ AN VỊ THÁNH TỊNH KỲ MINH ĐÀN


2.- LỄ AN VỊ THÁNH TỊNH KỲ MINH ĐÀN
Kỳ Minh Đàn, đêm 14-5 Mậu Tuất (30-6-1958)


THI:
Vui lòng
THƯỢNG PHỤ buổi hôm nay
Nam nữ ấu thơ sắp đặt bày
An vị chung lo về dự lễ
Kỳ Minh lai đáo để lo rày
Giáo lương nhứt thể đồng như một
(1)
Chi phái xem qua, trẻ chớ phai
Nho, Thích, CAO ĐÀI đâu có khác
Phật, Tiên, Thần, Thánh, cũng CAO ĐÀI.
Hỡi các trẻ thơ ấu ơi! Nay các con thi hành Thánh lịnh
chung về dự lễ chầu THẦY để các con cùng nhau tương thân
tương ái, đoàn kết thương yêu, dồi trau giáo lý Đạo.
THẦY rất vui khi nhìn thấy bầy con của THẦY hôm nay
hòa hiệp để gây tình hàn gắn cho chặt chẽ, hầu giữ vững
chơn truyền Đạo; đồng chung một chí hướng bảo vệ nhơn
sanh; quyết tâm lo cứu ách
(2) cho chủng loài thoát cảnh đời
đau thương tàn khốc đặng các con làm tròn sứ mạng Thiên
ân.
THẦY hoan hỷ ban ân huệ cho các con hiểu rõ thời cơ tạo
tác Kỳ Minh Đàn, trải qua khá nhiều khó khăn trở ngại mà

(1) Người có đạo (giáo ) và người không đạo (lương ) đều như nhau [vì
cùng là con Thượng Đế]. Xem đoạn ở sau: «…
đời, đạo cũng là con cái của
THẦY. Chỉ khác nhau đứa là tôn giáo, đứa không tôn giáo mà thôi

(2) Cứu ách 救 厄: Cứu khỏi tai ách.

con vẫn còn bền chí kiên tâm, cùng nhau chung tài chung
sức, anh em còn hòa thuận để làm tròn sứ mạng Bề Trên
giao phó. Nay tạm xong ngày an vị, bao nhiêu con cái của
THẦY phương xa hay sở tại
(3) đồng quy về dự lễ được đủ
đầy. THẦY vui mừng, đêm lành hạ điển giáo huấn cho đám
con thơ.
Các con ơi, bước Đạo trải qua bao nhiêu trở ngại, mấy lúc
lao lung
(4) mà các con giữ được một lòng vì THẦY vì Đạo, vì
nhơn sanh, chẳng lơi lòng nản dạ. Nay cuộc lễ, các con tận
tâm chung nhau hòa thuận, lo cho chu toàn mỹ mãn. Vậy các
con tịnh tâm nghe THẦY phán cơ Đạo!
Các con khá hiểu: Đạo bất ly tam ngũ. Trời có Nhựt,
Nguyệt, Tinh; đất có Thủy, Hỏa, Phong; nhân có Tinh, Khí,
Thần.
(5)
Đạo THẦY chia ra ba thời kỳ: Nhứt Kỳ, Nhị Kỳ, Tam Kỳ.
Nền tôn giáo chia ra làm ba giai đoạn: Đạo Khai là buổi
trước tiên phổ độ nhơn sanh, rải gieo chơn lý; Đạo Chuyển

(3) Sở tại 所 在: Tại địa phương này.
(4) Lao lung 牢 籠: (Chuồng trâu và lồng chim) ý nói bị giam hãm tù túng
cực khổ.

(5) Đạo bất ly tam ngũ 道 不 離 三 五: Đạo không lìa xa Tam Bửu và Ngũ
Hành, nghĩa là Đạo bao gồm Tam Bửu và Ngũ Hành. Câu trên đây có chép
trong
Đại Thừa Chơn Giáo (bài Thập Tự Tam Thanh), nguyên văn chữ
Hán là: «
Thiên hữu tam bảo nhật nguyệt tinh; địa hữu tam bảo thủy hỏa
phong; nhân hữu tam bảo tinh khí thần.»
天 有 三 寶 日 月 星, 地 有 三 寶
水 火 風
, 人 有 三 寶 精 氣 神. — Tư liệu tối cổ có ghi chép về Ngũ Hành
(Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) có lẽ là sách
Thượng Thư 尚 書 (tức Thư Kinh
書 經), nơi hai thiên: Cam Thệ và Hồng Phạm. Căn cứ nội dung thiên
Hồng Phạm, thuyết Ngũ Hành có thể nói xuất hiện cách nay ba ngàn
năm.

là hiện nay để cho các con, các chi phái tôn giáo đời đạo biết
thương yêu nhau, đoàn kết lẫn nhau, tương trợ nhau, phải
nhìn nhận một nòi giống dân tộc, màu da sắc tộc, đồng đều
là linh quang của THẦY ban bố; để các con gắn chặt tình yêu
thương mà bảo vệ Đạo, giữ gìn giềng mối.
Các con khá rõ: đời cũng do THẦY lập, đạo cũng do THẦY
mở; cho nên đời, đạo cũng là con cái của THẦY. Chỉ khác
nhau đứa là tôn giáo, đứa không tôn giáo mà thôi.
(6)
Lời THẦY giáo hóa về cơ Đạo Chuyển là bước đầu tiên để
dọn đường cơ Thống Nhất đạo, chỉ có quyền THẦY định đó
thôi. Đó là ngày LONG HOA ĐẠI HỘI – THẾ GIAN ĐẠI ĐỒNG.
Nếu con nào yếu vía lơi tâm, không giữ lập trường, vì
danh vọng, vì vật chất, vì kim tiền mà lôi cuốn các con đi
ngược nguyện vọng nhơn sanh, nghịch ý THẦY, thì chớ
trách rằng không khỏi luật Thiên điều đâu trẻ!
Vậy mỗi con, mỗi chi phái phải lo chỉnh đoan nội bộ. Chi
phái từ hình thức lẫn nội dung phải thống nhất từ Hội
Thánh đến Tịnh Đàn. Các Tịnh Đàn phải chịu sự hướng dẫn
của Hội Thánh.


THI:
Cơ Đạo thông qua rõ chánh tà
Chánh tà pha lẫn khó tìm ra
Con ơi, phải rõ lời CHA định
Trẻ hỡi khá tường, chớ lảng xa
Chánh tà kết cuộc con tường hản

(6) Xem lại chú (1) trên đây.

Tà mất, chánh lưu,(7) mối Đạo nhà
Ý muốn nhơn sanh, THẦY ý định
(8)
Khuyên con giữ vững mấy lời CHA.
THẦY khuyên về QUY TAM GIÁO HIỆP NGŨ CHI:
QUY TAM GIÁO là quy ba đường hướng, phương châm
của ba nền chánh giáo THẦY đã mở từ lâu. Nhưng mỗi nền
lễ giáo tùy theo phong tục tập quán, tùy theo dân tộc, dân
tâm, dân trí mà khai mở, tùy theo chế độ của đời mà dạy.
Thuyết dạy dân như Phật Thích Ca, bởi đời trong vòng tứ
khổ, bên Đạo Phật cũng thuyết từ bi mà ban vui cứu khổ.
Còn Gia Tô Giáo Chủ cũng vì đời thiếu công bình nên dạy lẽ
công bình để sửa đời. Tiên vì thiếu thương yêu nên dạy
thương yêu, bác ái.
Nay hạ nguơn tiêu diệt bảo tồn, chuyển sang nguơn
Thánh Đức, nên THẦY dùng huyền cơ diệu bút giáng trần
nơi xứ Việt Nam mở nền Đại Đạo CAO ĐÀI, quy ba đường
hướng chánh đáng cứu đời của ba nền chánh giáo là: TỪ BI -
BÁC ÁI - CÔNG BÌNH làm tôn chỉ duy nhứt của nền Đại Đạo
CAO ĐÀI để giáo hóa toàn linh.

HIỆP NGŨ CHI là năm cách thức cứu đời, năm điển hình
của PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN, HIỀN để làm mục đích duy
nhứt mà diệt khổ cho nhơn loại trên thế gian, lập đời an
bang thạnh trị.
Các con tịnh tâm nghe!

(7) Mất tà, còn chánh.
(8) Ý nhơn sanh là ý Trời. Cho nên: «Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời, / Câu
kinh vô tự độ người thiện duyên.
» (Kinh Nhập Hội)


BÀI:
1. Nhiều biển khổ bởi đời vật chất
Đám con thơ ngây ngất cuốn trôi
Con ôi, lượn sóng dập dồi
Thiếu đưa chớp nhoáng, uổng rồi kiếp con.
2. Vì vật chất hao mòn thân thể
Ham tước hàm chẳng kể lý chơn
Bao nhiêu cảnh khổ chập chờn
Tranh nhau từng chút, thua hơn từng lời.
3. Mùi Đạo lý ai thời suy nghiệm
Nẻo chánh chơn, ai kiếm ai tầm
Ít ai để ý lưu tâm
Thành ra phải chịu bao năm khổ sầu.
4. Lời THẦY nhắc, con hầu nghiệm kỹ
Để cho con tìm lý Đạo THẦY
Để con thoát khỏi lưu đày
Tìm sâu mục đích dạ THẦY, tiến sang.
5. Sống cõi tạm muôn ngàn giả tạm
Kiếp phù sanh ảm đạm khôn ngần
Lo giàu, lo mặc, lo ăn
Lo danh, lo lợi, lo đàn cháu con.
6. Lo như thế hao mòn thân xác
Rủi vô thường một lát phủi rồi
Bây giờ hối tiếc than ôi!
Bây giờ vinh nhục, thả trôi theo dòng.

7. Ngày tận cùng, tay không túi rỗng
Dù bạc kho vàng đống cũng không
Chỉ điều tội phước duy tồn
Do mình gây tạo hàn ôn buổi đời.
(9)
8. Xem tích xưa bao người còn đó
Mạnh ai bằng Hạng Võ oai hùng
(10)
Giàu sang ai sánh Thạch Sùng (11)
Trí mưu ai dám bì cùng Bái Công? (12)
9. Lanh lợi ai khéo mong Tào Tháo (13)
Độc tài ai bằng lão Thủy Hoàng (14)
(9) Hàn ôn 寒 溫: Lạnh và ấm. Gây tạo hàn ôn: Ý nói tạo nghiệp xấu và tốt.
— Ý vé này: Khi ta chết không mang theo được gì cả, có chăng chỉ là tội
phước mà ta đã tạo.

(10) Hạng Võ (Vũ) 項 羽: Hạng Tịch 項 籍 (232 ― 202 TCN), tức Tây Sở Bá
vương
西 楚 霸 王, là vị tướng có công lật đổ Nhà Tần và tranh thiên hạ
với Hán Cao Tổ
漢 高 祖 (Lưu Bang 劉 邦).
(11) Đời Tấn Trung Quốc có hai quan rất giàu có xa hoa là Thạch Sùng 石 崇
và Vương Khải 王 恺.
>> Xem thêm tích THẠCH SÙNG 石 崇 – VƯƠNG KHẢI 王 凱
(12) Bái Công 沛 公: Hán Cao Tổ 漢 高 祖 (Lưu Bang 劉 邦) sáng lập nhà
Hán, cai trị 206 ― 195 TCN. Lưu Bang khởi binh ở huyện Bái
nên
xưng là Bái Công.

(13) Tào Tháo 曹 操 (155 ― 220), tự Mạnh Đức 孟 德, A Man 阿 瞞, lập
chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Tào Tháo nổi tiếng thông minh và
đa nghi.

(14) Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 (259 ― 210 TCN) sau khi diệt sáu nước chư
hầu (Tề
, Sở , Yên , Hàn , Triệu , Ngụy ) thống nhất Trung
Quốc năm 221 TCN, chấm dứt thời Chiến Quốc. Thủy Hoàng với thừa
tướng Lý Tư
李 斯 (284 ― 208 TCN) thi hành nhiều chính sách long trời
lở đất để thống nhất, thí dụ như «phần thư khanh nho»
焚 書 坑 儒 (đốt
sách, chôn nho sĩ) năm 213 TCN.

Sống lâu Bành Tổ hiên ngang (15)
Xét ra những điểm thế gian khó bì.
10. Hỏi ngày nay còn chi tại thế
Hay là còn danh để tiếng cười?
Mỉa mai khóe miệng vành môi
Chê khen thì cũng một hồi mà thôi.
11. Ai gương mẫu để đời sử tích
Cho bằng gương họ Thích Đạt Ta
(16)
Hy sinh thê tử mẹ cha,
Sướng vui sự nghiệp cửa nhà ra đi.

12. Dốc tầm Đạo từ bi khổ cực
Chí cứu đời như Đức Giê-Su
(17)

Miễn người thoát cảnh lao tù
Thân này còn mất, có đâu tưởng màng.
13. Gương Khổng Tử còn trang sử đó
Để cho đời nhìn ngó sự hành
Sao cho xứng phận hùng anh
Sao cho tên tuổi sử xanh rạng đề.
14. Gương quốc túy
(18) bên lề sử mới
(15) Bành Tổ 彭 祖 theo truyền thuyết là người thượng cổ sống hơn 700
năm.

(16) Phật Thích Ca Mâu Ni 釋 迦 牟 尼: Śākyamuni (Siddhārtha Gautama).
Siddhārtha phiên âm là Tất Đạt Đa
悉 達 多, Tất Đạt 悉 達 (người Việt
quen đọc Sĩ Đạt Ta). Gautama phiên âm là Cồ Đàm
瞿 曇.
(17) Chúa Jesus (khoảng 4 TCN ― 33 CN), đấng cứu thế, bị đóng đinh trên
thập giá.

(18) Quốc túy 國 粹: Cái hay cái đẹp của một nước.
Nhìn gương xưa Lê Lợi anh hùng
Cứu giống nòi thể Quang Trung
Trưng Vương cứu chủng, anh hùng liệt oanh.
15. Gương Nguyễn Trãi còn danh sử tích
Không nài thân, giúp ích giống nòi
Thoát nơi cửa ngục tôi đòi
Thà rằng còn mất, miễn soi anh hùng.
16. Nhơn sanh nay nhìn chung gương sáng
Làm sao cho xứng đáng kiếp người
Kiếp người chớ khá dể duôi
Trải qua nhiều kiếp: ong, ruồi, cá, tôm.
(19)
17. Nhiều kiếp phải sanh làm thảo mộc
Nhiều kiếp qua mấy lớp thú cầm
Được người, trải mấy ngàn năm
Nỡ nào lơ lảng, lơi tâm lửng chừng.
18. Cơ tiến hóa chớ ngừng bước tới
Đừng để cho thối trễ chuyển thân
Uổng thay một kiếp vi nhân
(20)
Lo tròn bổn phận, lên Thần Thánh Tiên.
19. Những việc nghĩa cần chuyên tô điểm
Hằng ngày lo tìm kiếm sự lành
Sớm trưa đi tắt về quanh
Khuya chiều chăm chú việc lành tế nhân.
(21)
(19) Các loài này trong nhóm «bò, bay, máy, cựa».
(20) Kiếp vi nhân: Kiếp làm người.

20. Đó là bực đem thân hướng đạo
Xả thân mình, hoài bão nhơn sanh

Nếu không đem hết trí thành
Lo tròn nhiệm vụ, sao thành Đạo CHA?

21. Lãnh phận sự phải ra gánh vác
Trách nhiệm con chẳng khác lương y

Gian nan khó nhọc nệ chi
Khó khăn hiểm trở mới vì nhơn sanh.
22. Lương y giỏi sỏi sành
(22) với bịnh
Phải cần chuyên tự chỉnh thân mình
Quyết tâm giúp đỡ nhơn sanh
Lo người trong đó có mình nữa con.
23. Tam tam niên
(23) vở son đầy chữ (24)
Để dạy con là thứ thuốc linh
Thuốc phân tánh dược phân minh
Thuốc này chỉ rõ mọi hình thức ra.
24. Thuốc THẦY phân chánh tà rành mạch
Thuốc linh đơn chỉ cách con dùng
Đặng con un đúc nấu nung
Bài trừ các bịnh thư ung trong mình.
25. Trừ được rồi chơn linh sáng suốt

(21) Tế nhân 濟 人: Cứu giúp người.
(22) Sỏi sành (sành sỏi): Rành, tinh thông.
(23) Tam tam niên: Ba mươi ba năm, tính từ ngày khai Đạo (phần phổ độ)
đến 1958.

(24) Vở son đầy chữ: Dạy nhiều Thánh giáo.
Mới đáng là cầm đuốc quang minh
Dìu người chơn lý giữ gìn
Nếu sai rất uổng công trình sồng nâu.
(25)
26. Biết bao nhiêu những bầu thuốc quý
Mà các con chẳng trị lấy mình
Lương y để thuốc con khinh
Làm sao tu được hành trình đây con!
27. Thuốc là lý, gắng bàn đoạt lý
Đoạt lý rồi thâm thúy Đạo Trời
Mới là xứng phận con ơi
Thuốc THẦY là Đạo, đời đời không phai.
28. Tam tam niên thuốc hay THẦY trị
Bệnh các con suy nghĩ ân cần
Để mà trị lấy bản thân
Làm sao xứng bực Thiên ân, con à!
29. Bệnh sân si cũng là nghiệp chướng
Bệnh vì quyền, xu hướng lợi danh
Cá nhân quyền thế cạnh tranh
Tước quyền cứ giựt cứ giành lẫn nhau.
30. Bệnh nơi lòng gươm đao chồng chất
Bệnh cá nhân tang tóc tâm hồn
Bệnh này dường thể tả ôn
(26)
Bệnh lòng lửa nóng bôn chôn lắm hồi.
(25) Công trình sồng nâu: Công trình tu hành. — Nâu sồng là màu nhuộm
từ củ nâu và lá sồng; chỉ quần áo của nhà chùa hay của người dân quê.

(26) Tả ôn 瀉 瘟: Dịch tả, ôn dịch 瘟 疫.
31. Thuốc là lý, con bồi chữa bệnh
Tự tâm con tu chỉnh lấy mình
Thuốc thang rất báu mầu linh
Nếu con chẳng trị, khổ mình về sau.
32. THẦY dạy trẻ vàng thau rõ lấy
Kiểm thân tâm soi thấu lầm sai
Để con sửa lại lương tâm
Hóa nhơn chánh kỷ
(27) học tầm để gương.
33. Giáo lý Đạo thường là miên viễn
Kêu nữ nam thực hiện học hành
Con ôi, luật Đạo ai rành?
Chưa rành con phải học hành nghe con!
34. Ngày thành Đạo, tiếng còn tên tuổi
Nếu không tròn là buổi khổ sầu
Là ngày lệ thảm thâm bâu
(28)
Là ngày uổng lấy sồng nâu bao chừ! (29)
35. Con nhiệm vụ không từ chẳng chối
Ngày Đạo thành là lối vinh quang
Tuổi tên ghi chạm bảng vàng
(30)
Nhơn quần trìu mến, rõ ràng hùng anh.
36. THẦY giáng bút đêm lành giáo hóa

(27) Chánh kỷ hóa nhơn 正 己 化 人: Sửa mình cho đúng rồi giáo hóa người
khác.

(28) Bâu: Cổ áo. Lệ thảm thâm bâu: Nước mắt rơi ướt đẫm cổ áo.
(29) Uổng lấy sồng nâu bao chừ: Uổng công tu hành bấy lâu.
(30) Bảng vàng (hoàng bảng 黃 榜): Bảng ghi tên người thi đậu.
Dạy con trần, con khá học tầm
Đạo THẦY lý nhiệm thậm thâm
Con ơi đừng để lơi tâm, trẻ à!
37. THẦY mừng trẻ hiệp hòa nam nữ
Các ấu thơ dự hội vui vầy
Cùng nhau hòa lẫn đó đây
Chứng lễ an vị, nay THẦY ban ân.
38. Còn Hội Thánh cùng phần Đàn Tịnh
Tôn giáo cùng chung tính chung lo
Giáo lương vầy hiệp một pho
Kỳ Minh an vị chung lo vuông tròn.
Ân lành ban bố mỗi con
Khen cho các trẻ chẳng mòn mỏi tâm.


THI:
Bệnh con trầm trọng ở nơi lòng
Ái, ố, sân, si, mãi chất chồng
Hờn giận ưu phiền là nghiệp chướng
Tước hàm địa vị thế nguy vong
Độc tam
(31) bản ngã tâm tư mãi
Cá tánh rẽ chia giết giống dòng
Thuốc báu THẦY ban con chữa bịnh
Thoát rồi mới đáng phận Thiên phong.
Con
THIÊN HUYỀN TÂM nghe thi:
HUYỀN TÂM con trẻ lóng nghe CHA
(31) Độc tam: Tam độc 三 毒 (tham , sân , si ).
Cố gắng chung lo chốn Thánh Tòa
Cơ Đạo dựng xây cho phát triển
Anh em hòa thuận chớ chia ra
Đệ huynh vầy hiệp đồng chung bước
Khổ bấy tâm con rõ biết mà
Nhưng trẻ khá âu lo phận sự
Bền tâm son sắt bước lần qua.


HỰU:
Lần qua bàn luận nghĩa anh em
Mỗi sự thảo bàn để tiến nhanh
Chung ý là THẦY, con khá nhớ
Chớ vì phiền muộn lại xa đành
Bao lần nhắc nhở kêu con dại
Mấy lẽ chỉ phân phải thực hành
Huynh đệ đồng chung mau gánh vác
Anh em hiệp bước độ nhơn sanh.
Nay bãi đàn, 40 phút tái lập,
Ngọc Minh Sơn thủ cơ.
THẦY ban ân huệ mỗi con nam nữ.


NGÂM:
Giã con nam nữ đàn trung
Rồng vàng trở gót, Ngọc Cung THẦY hồi.

 


(Xem tiếp 3.- GIÚP VÙA CƠ ĐẠO QUẢ CÔNG ĐỦ ĐẦY)