7. Phận Nữ lưu
7.- PHẬN NỮ LƯU
Long Châu, Ngọ thời, 14-10 Canh Tý (02-12-1960)
Pháp đàn: Hương Tỷ. Đồng tử: Ngọc Kim Loan.
Độc giả: Minh Sơn.
THI:
THỂ đoàn đắc lịnh giáng đàn nay
LIÊN kết chị em mối Đạo Thầy
TIÊN Đạo giáo truyền nguồn chánh lý
NỮ lưu (1) cố gắng buổi thời đây.
THỂ LIÊN TIÊN NỮ
Chị mừng các em. Vui thay được lịnh báo tin có đức TỪ
TÔN giá ngự lâm đàn. Thủ lễ tiếp nghinh. Chị xuất ngoại.
(Tiếp điển)
THI:
DIÊU diêu châu động cảnh trần gian
TRÌ chí hoa đơm Hội Niết Bàn
KIM cúc khoe khoang màu đạo đức
MẪU Nghi giáng điển nhập trung đàn.
DIÊU TRÌ KIM MẪU
MẸ linh hồn mỗi con nam nữ. MẸ miễn phép, mỗi con an
tọa lắng nghe MẸ giáo truyền đạo đức.
Các con ôi, nghe MẸ giải về PHẬN NỮ LƯU cho các con.
Phàm trên đời, con người phải xét kỹ tường tận. Các con
(1) Nữ lưu 女 流: Nữ phái, nữ giới, phụ nữ.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 73
nữ phái có bổn phận lo xây đắp gia đình đạo đức, xã hội. Kìa
là thời kỳ dưới thế hệ với kỷ nguyên loạn động lấn lấn chen
chen, các con phận nữ lưu, con đừng tưởng câu “nhi nữ nam
hóa” (2) rồi phải bị đời biếm nhẻ (3) đó con. Nếu con người
biết ưu thời mẫn thế,(4) phải thấy xa hiểu rộng. Vậy các con
khá xét cho tường tận!
Phàm con người ở cõi thế, có ai qua ba vạn sáu ngàn
ngày? (5) Xét lại như ngựa qua cửa sổ,(6) sanh rồi tử, tử rồi
sanh, mà các con nào có hiểu chi đâu là oan oan trái trái. Hễ
con người muốn tránh khỏi vòng oan trái thì phải trau dồi
bản tánh; trong tứ thời lo gội rửa bản thân, gội mình cho
trong sạch; tập tánh ôn hòa, nhẫn kiên, thuần túy. Nguồn cội
tu thân là căn bản đó con!
Nay MẸ giáng đàn chứng Lễ Hạ Nguơn và mừng các con
đồng tề tựu về đây mà không bản ngã tư tâm. Các con ôi,
nhìn Tòa Thánh, Hội Thánh đang cơn khảo đảo, cơ Đạo tách
rời chẳng hiệp nhau, các con có đau lòng chăng?
BÀI:
1. Thu đã mãn, đông về Nam Việt
Gió hắt hiu, tuyết bủa sương sa
Trăng trong gió mát là đà
Chim chuyền nhành ớt, dế ca ngâm sầu.
(2) Nhi nữ nam hóa: Nữ xông xáo, xốc vác như nam.
(3) Biếm nhẻ: Chê bai, nhạo báng.
(4) Ưu thời mẫn thế 憂 時 憫 世: Lo lắng cho thời thế.
(5) 36.000 ngày (tức 100 năm x 360 ngày).
(6) Thời gian qua mau như cái bóng con ngựa câu chạy vút ngang khe cửa.
74 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
2. Kể từ thuở Đạo mầu khai mở
Miền Việt Nam bảo trợ toàn linh
Xoay cơ chuyển thế Đạo Huỳnh
Chỉ đường dắt lối công bình hoát khai.
3. Lễ Hạ Nguơn, Tây Đài giáng điển
Nương gậy trầm MẸ chuyển huyền cơ
Chỉ cho con biết bến bờ
Trở về cựu vị, qua bờ giác tân.(7)
4. Các con ôi, Phong Thần treo bảng!
Trường thi kia có hản chi đâu
Ráng lo tu niệm Đạo mầu
Đến ngày đại hội, hoàn cầu thế nao!
| 5. | Phận nhi nữ má đào liễu yếu Bước đường đời còn chịu đau thương |
Ai xui nên cảnh đoạn trường
Ráng tu cố gắng chọn đường mà đi.
6. Nỗi vui ít, sầu bi dồn dập
Thì các con ráng tập liệu lo
Trong nền xã hội đắn đo
Đương cơn khói lửa được cho chu toàn.
| 7. | Trên trách vụ gìn đàng chơn lý Phải biết câu quốc túy (8) quốc hồn (9) |
(7) Giác tân 覺 津: Bến giác.
(8) Quốc túy 國 粹: Vẻ đẹp tinh túy và thật xưa của nước nhà.
(9) Quốc hồn 國 魂: Hồn nước, tinh thần đặc biệt của nước do lịch sử oai
hùng của tổ tiên nhiều đời kết tinh lại.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 75
Lẫn còn quốc phá gia vong (10)
Ráng ra tu chỉnh, đục trong, sống còn.
8. Đừng ngồi ngó sông non nước bích
Rồi tự cao, có ích chi đâu
Ai đành mang áo sồng nâu
Để người dày xéo, nuốt sầu sao yên.
9. Này các con hậu tiền (11) rường cột
Nữ cùng nam cũng một tâm trung
Kìa là sông Nhị núi Nùng (12)
Còn lưu gương để nấu nung diệt thù.
10. Trưng cùng Nhị ngàn thu nhắc nhở
Khuyên các con ghi nhớ lời GIÀ
Tu hành cũng chẳng khác xa
(... Bản cũ thiếu 2 câu.......................)
11. (…....................................................)
MẸ đâu nài cảnh thế trược trần
Hạ mình nhỏ nhẹ lời phân
Kêu con tỉnh thức mộng trần lo tu.
12. Kìa cõi thế rừng Nhu biển Thánh
Kiếp sống đời hoàn cảnh tối tăm
Làm cho lắm đứa lạc lầm
(10) Quốc phá gia vong 國 破 家 亡: Nước tan nhà mất.
(11) Hậu tiền: Trước sau cũng vậy. — Các con nữ phái trước sau cũng đều là
rường cột (có vai trò quan trọng).
(12) Núi Nùng: Ngọn núi xưa ở miền Bắc Việt Nam trước khi vua Lý Thái Tổ
(974-1028) cho xây kinh thành Thăng Long.
76 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
Bởi đời phong kiến móng mầm gây ra.
13. Nhồi nắn con lần xa chánh nghĩa
Xúi giục con nhiều phía hẹp hòi
Cam lòng sống cảnh tôi đòi
Yếm mang quần vận, thiệt thòi biết bao.
| 14. | Rằng nữ giới có nào đáng bực (13) Rằng khuê môn bất xuất,(14) thảm thay! |
Nữ nhi ngoại tộc nhà ngoài (15)
Học hành chẳng có, đức tài kém thua.
15. Nó mắng con bốn mùa chẳng ngớt
Nó tạo dồi yếu ớt tinh thần
Làm con phải chịu khổ thân
Có nào so sánh nam nhân được gì.
16. Đào tạo con ngọt thì chua chát
Nắn đúc con bi đát ngậm ngùi
Con tiến bộ, nó kéo lui
Thiệt thòi nữ phái, vị mùi đắng cay.
17. Thời đại tiến, đức tài phát hóa
Con nhanh tâm giải tỏa mạch sầu
Nữ nào có kém nam đâu
Cũng tài cũng đức, cũng âu lo lường.
(13) Có nào đáng bực: [Nữ giới] có ai xứng đáng đâu.
(14) Khuê môn bất xuất 閨 門 不 出: Nữ chỉ ở trong nhà, không được phép
ra khỏi phòng mình.
(15) Nữ nhi ngoại tộc 女 兒 外 族: Con gái lấy chồng, theo họ bên chồng, nên
gọi là «ngoại tộc».
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 77
18. Nữ như nam đường đường oanh liệt
Nữ cũng là hiểu biết việc đời
Lập công bồi đức con ôi
Tu hành cứu thế, độ đời lầm than.
19. Xưa Triệu Ẩu (16) cũng trang liệt nữ
Trưng Vương kia Việt sử còn ghi
Đức tài đâu kém nam nhi
Cũng trang lập sử thành trì Việt Nam.
20. Con noi đây để làm gương tốt
Việc tu hành bước tột nghe con
Chị em hòa thuận mới còn
Chớ vì chinh ý mỏi mòn đạo tâm.
21. Thương yêu nhau học tầm đạo đức
Kết đoàn nhau nỗ lực bồi công
Tu hiền con gắng lo xong
Chị nâng em ngã chớ hòng lạc phai.
22. Em giảng chị điều sai việc quấy
(... Bản cũ thiếu 2 câu...)
(….............................…)
Ráng lo chức vụ tề gia đến cùng.
23. Phận nhi nữ Tam Tùng (17) rõ thấu
Câu Tứ Đức (18) con nấu nung lòng
(16) Triệu Ẩu: Triệu Thị Trinh (226―248), Bà Triệu, khởi nghĩa chống giặc
Tàu (Đông Ngô) xâm chiếm Giao Chỉ.
(17) Tam Tùng (tòng) 三 從: Khi chưa chồng thì theo cha; khi có chồng thì
theo chồng; chồng chết thì theo con.
78 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
Trung Dung, Luận Ngữ đạt xong
Con đường ghi nhớ phổ thông lời GIÀ.
24. Con chớ tưởng khôn ngoan ỷ thế
Hiếp đáp chồng, khi dể cậu cô.(19)
Gọi mình là gái hung đồ
Thế đời nhạo báng, tiếng phô lưu truyền.
25. Đạo với đức là giềng chí cả
Ở trong trần, con khá phô trương
Tích xưa Tô Huệ (20) tỏ tường
Hồi văn liệt nữ (21) nêu gương muôn đời.
26. Biển trần khổ vơi vơi trời nước
Xã hội đời bồi chước bớ con
Tề gia xử thế lỏi lòn (22)
(18) Tứ Đức 四 德: Công (khéo nữ công), Dung (vẻ mặt tươi tắn), Ngôn (lời
nói dịu dàng), Hạnh (có đạo đức).
(19) Khi dể cậu cô: Xem thường cha mẹ chồng.
(20) Tô Huệ 蘇 惠: Tự Nhược Lan 若 蘭, người đời nhà Tấn (265-419), có tài
văn học. Khi chồng là Đậu Thao 竇 滔 đi trấn thủ ở Lưu Sa 流 沙, nàng ở
lại nhà. Ba năm xa cách nhớ chồng, Tô Huệ viết mười bài tứ tuyệt, thêu
vào tấm gấm vuông theo hình trôn ốc, từ ngoài xoáy tròn vào trung tâm
bức gấm, rồi tìm cách dâng vua. Vua truyền cho các quan đọc, nhưng
không ai đọc được, nên triệu Tô Huệ vào. Đứng giữa triều, Tô cất giọng
não nùng bi thảm ngâm hết mười bài, nước mắt đằm đìa. Vua cảm động,
hạ chiếu cho Đậu Thao được xuất ngũ. Mười bài thơ thêu trên gấm của
Tô Huệ giúp chồng hồi quê về sau được gọi là Chức Cẩm Hồi Văn 織 錦 迴
文.
(21) Hồi văn liệt nữ: Sự tích Tô Huệ được chép trong sách “Tấn Thư Liệt Nữ
Truyện” 晉 書 列 女 傳 là sách chép sự tích các liệt nữ (illustrious women)
đời nhà Tấn. "Hồi văn liệt nữ" tức là trang liệt nữ [Tô Huệ] viết [chức
cẩm] hồi văn.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 79
Cang thường (23) cũng nặng, sông non sánh bằng.
27. Bước đường Đạo, con hằng chuẩn sắp
Việc tu hành ngăn nắp trang nghiêm
Ngũ giới cấm là mối giềng
Tứ đại (24) con giữ, quy nguyên mới thành.
| 28. | Xuống xả thân tu hành cho đúng Luật của THẦY, phúng tụng ngày đêm |
Tam Thanh chưởng lập móng nền
Lục thông chơn khí đơn điền vần xoay.
29. Hễ biết Đạo hằng ngày ghi nhớ
Cuộc đinh hư xoay trở vô thường
Pháp luân thường chuyển âm dương
Ngày đêm phanh luyện (25) tỏ tường đường chơn.
30. Đường chơn đạo tùy nhơn phổ hóa
(22) Lỏi lòn: lòn lỏi (Đảo ngữ “lòn lỏi” thành “lỏi lòn” cho ăn vần với “con”
(câu trên) — LÒN LỎI: ① Cúi đầu, luồn lách qua chỗ nhỏ hẹp. Thí dụ:
Lòn lỏi để chui qua lỗ chó ở hàng rào. ② Chìu lòn, chịu khó chịu nhục, xu
phụ để được người trên có quyền thế hay giàu có chiếu cố, cất nhắc,
nâng đỡ. Thí dụ: Lòn lỏi nơi cửa quan để hòng kiếm chút bổng lộc. ③
Nghĩa trong bài Thánh giáo: “xử thế lỏi lòn” = Sống ở đời lắm lúc phải hạ
mình, chịu nhịn nhục để được yên thân hay được việc của mình. (Huệ
Khải chú)
(23) Cang thường (cương thường) 綱 常: Tam cương ngũ thường. Tam
cương 三 綱: ba giềng mối: vua-bầy tôi, cha-con, vợ-chồng (vua là giềng
mối của bầy tôi, cha là giềng mối của con, chồng là giềng mối của vợ);
ngũ thường 五 常: năm đức tính thường hằng: nhân 仁, nghĩa 義, lễ 禮,
trí 智, tín 信.
(24) Tứ đại: Tứ đại điều quy 四 大 條 規.
(25) Phanh luyện 烹 煉: Tu luyện tham thiền.
80 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
Kíp bươn lo (26) giải phá cho rồi
Tu hành lo trở về ngôi
Lánh vòng lục đạo luân hồi trả vay.
*
Canh thâm lời dạy đủ đầy,
Các con ghi nhớ lời này MẸ khuyên.
Giã con ở lại đàn tiền,
Gậy trầm MẸ chống, cung Tiên phản hồi.
(26) Kíp bươn lo: Gấp gáp bươn bả lo toan.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 81
(Tiếp theo 8.- LỄ ĐĂNG TIÊN PHỔ ĐỨC CHƠN NHƠN)