10.- ĐÀN CƠ NỮ PHÁI
10.- ĐÀN CƠ NỮ PHÁI
LỄ KỶ NIỆM NGÔI HAI GIÁO CHỦ NGÔ ĐẠI TIÊN
Long Châu, 13-3 Tân Sửu (27-4-1961)
THI:
THẦN Thánh nhờ tu mới đặng nhàn
NỮ tài đắc lịnh rạng danh vang
TIÊN gia y lịnh thi hành đúng
NƯƠNG bút báo tin rước MẪU HOÀNG.
THẦN NỮ TIÊN NƯƠNG
Giờ nay giáng đàn báo tin, các hiền thành tâm tiếp giá
MẪU HOÀNG lai ngự. Thần Nữ hộ đàn. Xuất cơ.
(Tiếp điển)
THI:
DIÊU đài hoa trổ trái đơm cây,
TRÌ điện mùi hương đến cảnh này.
KIM cúc khoe màu về phận gái,
MẪU đơn bướm liệng (1) hội rồng mây.
DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC TỪ TÔN
MẸ LINH HỒN các con. Mẹ mừng các con liệt đẳng trung
đàn. Mẹ miễn phép, các con an tọa.
Các con ôi, MẸ rất vui mừng chứng lòng các con ở nơi
phương xa chẳng nài gian lao khổ nhọc, đồng tề tựu về đây
(1) Bướm liệng: Bướm lượn (hoa).
114 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
để dự lễ nhị thập cửu niên (2) của đức NGÔ ĐẠI TIÊN - là một
vị Anh Cả của các con và tỏ tình đoàn kết cùng nhau tương
thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau. MẸ rất vui lòng đó các con.
Các con định thần nghe.
BÀI:
1. TÂY VƯƠNG MẪU vườn đào ướm chín
Con trần gian chưa tỉnh giấc nồng
Lắm còn thiếu kém quả công
Trược trần còn nặng, khó mong trở hoài.
2. Ngày đại lễ NGÔI HAI GIÁO CHỦ
Hai mươi chín năm đủ thời giờ
Thi hành theo bảng đồ thơ
Ở trong bát quái thời cơ dạy truyền.
3. Con nam nữ kiền thiềng lễ bái (3)
Cùng phái chi xúm lại tựu tề
Chầu THẦY chầu MẸ canh khuya
Tỏ tình đoàn kết, chẳng chia rẽ màu.
4. Nơi Diêu Điện Mẹ vào ra khổ
Biết trần gian đứa Sở đứa Tần
CAO ĐÀI lập hội Long Vân
Thấy con trần thế, não nần (4) lắm thay!
(2) Nhị thập cửu niên 二 十 九 年: 29 năm. Lễ kỷ niệm 29 năm Đức Ngô
đăng Tiên (1932).
(3) Kiền thiềng (thành) 虔 誠: Thành kính. — Các chữ «thành» trong tiếng
Việt miền Nam thường đổi ra «thiềng», có lẽ kỵ húy vị nào đó. Thí dụ: Thị
thiềng (thị thành 市 城), kiền thiềng (kiền thành 虔 誠), thiềng tâm
(thành tâm 誠 心), v.v.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 115
| 5. | Sắc lịnh MẸ lời vàng dạy bảo MẸ giáng trần mật hảo cùng con |
Nay đà bút cạn cơ mòn
Trông con giữ vẹn gìn tròn lời ra.
6. Con nhớ lại ngày mà xuống thế
Tám báu trao, con để mất đi
Công, ngôn, dung, hạnh nữ nhi
Tam tùng Tứ đức, trẻ thì bỏ lơi!
7. Hoàn cảnh sống nhằm đời phong kiến
Nhồi nắn con nhiều chuyện ngây thơ
Đứa khôn trở lại đứa khờ
Làm con thoái bộ nhuốc nhơ cuộc đời.
8. Thuyết ngu dân phần thời khổ cực (5)
Nào khuê môn bất xuất, thảm thay! (6)
Nữ nhi ngoại tộc nhà ngoài (7)
Làm sao cho đặng gái tài nữ lưu.
(4) Não nần(g): Não nùng, buồn thảm, xót xa. (Dùng “nần” để ăn vần với
“Tần” cuối câu thất ở trên.)
(5) Các quan niệm xưa ràng buộc phụ nữ là cách ngu dân, làm phụ nữ không
tiến bộ.
(6) Khuê môn bất xuất 閨 門 不 出: Nữ không ra khỏi nhà hay phòng riêng
của mình (khuê phòng 閨 房). Quan niệm lỗi thời này hạn chế phụ nữ
dấn thân vào các hoạt động xã hội.
(7) Nữ nhi ngoại tộc 女 兒 外 族: Con gái khi lấy chồng thuộc họ nhà chồng
(ngoại tộc 外 族: họ ngoài, tức họ bên chồng). Quan niệm lỗi thời này dẫn
đến quan niệm sinh con nam/nữ: «Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.»
一 男 曰 有, 十 女 曰 無 (sinh một con trai gọi là có con; sinh mười con
gái gọi là không có con). Luật pháp hiện nay cấm bác sĩ tiết lộ giới tính
thai nhi khi siêu âm.
116 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
9. Dạy các con tầm sưu giữ vẹn
Sửa trau thân vun quén gia đình
Làm nên phận gái nữ sinh
Tề gia nội trợ, giữ gìn cho kham.
| 10. | Từ đối xử việc làm của thế Tùy với nhau đặng để mẫu gương |
Áo cơm no ấm mọi đường
Phận làm hiếu đạo dọn đường cơn nguy.
11. Chia cảnh khổ trong khi thời thế
Lúc loạn ly tìm kế dắt dìu
Đỡ nưng trong lúc tàn tiêu
Xử tròn bổn phận danh nêu muôn đời.
12. Hỡi nhi nữ ra thời cứu chúng! (8)
Con biết rằng hữu dụng cần ai
Đó con nhi nữ trai tài
Giờ nay rõ được tương lai khắp rền.
13. Mẹ biết con trong nền nặng nợ
Phận nữ lưu ráng gỡ, khổ thay!
Trông đêm chí những đến ngày
Con ôi, cố gắng chầy ngày cho qua!
14. Nhắc đến trẻ, đậm đà lòng MẸ
Chạnh nhớ con, quạnh quẽ lòng đau
Thấy con ruột thắt gan bào
(8) Mẹ khuyên dạy nữ phái học hỏi (đời, đạo), tự thoát khỏi các định kiến
xưa, để dấn thân vào đời cứu chúng sanh.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 117
Lòng GIÀ chua xót biết bao con à!
15. Nhắc lúc trước đậm đà chia sớt
Khổ vui chung những đợt qua rồi
Nào là con chịu khúc nôi (9)
Lúc đi hành khất, lúc đi hội tràng.
16. Thập nhị phái trung đàn vắng dạng
Tại vì sao, con hản tường tri!
Con ôi, mối Đạo huyền vi!
Các con nghĩ lại mà đi, chớ sờn.
17. Con biết chữ hóa nhơn chánh kỷ (10)
Để toan lo chung chí hiệp hòa
Con gìn mối Đạo Kỳ Ba
Dắt dìu sanh chúng thoát ra khổ sầu.
18. Lãnh sứ mạng Đạo mầu sắc tứ
Lãnh bản đồ để dự Long Hoa
Đừng cho lem ố đạo nhà
Chung cùng em chị kết hoa năm màu.
| 19. | Các Tịnh Đàn nghe mau y lịnh MẸ điểm truyền phụng thính lời châu |
Chơn minh nữ phái đứng đầu
Để lời châu ngọc vài câu luận bàn.
20. Đạo có khổ gian nan lắm lúc
(9) Khúc nôi: Nỗi niềm, tình cảnh.
(10) Sửa mình cho đúng (chánh kỷ 正 己) rồi giáo hóa người khác (hóa nhơn
化 人).
118 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
Có sảy sàng gạn đục lóng trong
Qua rồi những cảnh não nồng
Vinh quang đem lại cẩn phong tên đề.
21. Kỳ Minh Đàn châu phê bút ngọc
Nữ phái con lăn lóc theo Già (11)
Lời vàng tạc để dành qua
Con ôi, cố gắng lời ra dạy truyền!
22. Thiên Tiên Đài nghe khuyên cặn kẽ
Nữ phái con nghe MẸ dạy tường
Cuộc đời như tuyết mù sương
Nắng tan gió tạt tầm phương độ đời.
23. Nguyệt Thanh Quang cơ Trời dĩ định
Các con mau thức tỉnh hồi đầu
Hoa tàn cuộc bể cồn dâu (12)
Trông con lo liệu Đạo mầu danh bia.
24. Bửu Quan An Tịnh kìa bớ trẻ!
Bút mực nào MẸ vẽ con coi
Tiên tri thấy để rẽ ròi (13)
Hạ nguơn Canh Tý, con coi thì tường.
25. Bửu Đài Quan con tường trong đục
Đức thắng tài, un đúc bớ con!
Gọi lòng con chớ phai mòn
(11) Già: Lão, tiếng tự xưng của Đức Diêu Trì Kim Mẫu.
(12) Cuộc bể cồn dâu: Cuộc biến đổi cực lớn, do câu «thương hải tang điền»
滄 海 桑 田 (biển xanh biến thành ruộng dâu).
(13) Rẽ ròi: Rõ ràng, rạch ròi đâu ra đấy.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 119
Đến ngày kết cuộc bảng son tên đề.
26. Thất Long Thành chuẩn phê các trẻ
MẸ kêu con cặn kẽ nghe lời
Trường đồ mã lực con ôi! (14)
Trông con lo vẹn, ôi thôi canh tàn!
27. Thiện Minh Đàn con toan rõ thấu
Lý chánh chơn nung nấu tường tri
Bánh xe tiến hóa kịp kỳ
Lo tròn bổn phận hội thi trung đàn.
28. Chiếu Minh Minh Nguyệt bàn cặn kẽ
Xét cho tường mọi lẽ mà đi
Hỡi con nữ phái thau chì!
Thau chì phân biệt, biệt thì nghe qua.
29. Ẩn Giáo trẻ nghe GIÀ đờn khảy
Giọng phù trầm con thấy Kỳ Ba
Độ đời rộn rực âu ca
Con đường sống tạm thoát qua bể sầu.
30. Nơi Tiểu Thất đạo mầu xem kỹ
Vạch hé màn chơn lý tầm ra
Tâm thành là Phật chẳng xa
Vạch màn chơn lý thoát ra bể sầu.
31. Giác Minh Đàn vài câu nghe dặn
Nữ phái con thúc thẳng đàng đi
(14) Trường đồ mã lực: Do câu «trường đồ tri mã lực» 長 途 知 馬 力
(đường dài mới biết sức ngựa).
120 – THÁNH GIÁO SƯU TẬP QUYỂN MỘT
Kìa là gặp hội khả vi! (15)
Thoát vòng khổ hải lần đi tựu tràng.(16)
32. Ngọc Minh Đàn khúc khoan reo nhặt
Trống giác mê nhịp khắc trỗi ba (17)
Đêm khuya thúc nhặt canh gà (18)
Các con nữ liệt nghe GIÀ vọng ru.
NGÂM:
Ru con sóng bủa ba đào,(19)
Chinh nghiêng mối Đạo, chung nhau lo lường.
Con ôi, MẸ dạy tỏ tường!
Đem lời khuyến nhủ yêu thương nhau cùng.
Dắt dìu em chị thủy chung,
Thánh Tòa (20) sắp xếp thính tùng (21) hỡi con!
Cạn lời cặn kẽ thon von,
Giã con ở lại, cung son MẸ hồi.
Thăng.
(15) Hội khả vi: Cơ hội có thể làm được (khả vi 可 為).
(16) Tựu tràng (tựu trường): Nhập học trường thi Hội Long Hoa. — Nhập
học tu để thoát khổ.
(17) Ba: Canh ba. Ngày xưa, một đêm chia ra năm canh 更 (mỗi canh cỡ 2
tiếng đồng hồ), đánh trống để báo hiệu, gọi là «trống canh».
(18) Canh gà: Canh năm (3―5 giờ sáng), lúc gà gáy sáng.
(19) Ba 波: Sóng nhỏ (waves). Đào 濤: Sóng lớn, sóng cả (billows), cũng như
lãng 浪. — Ba đào ý nói sóng nhồi rất dữ. (Chớ thấy sóng cả mà ngã tay
chèo.)
(20) Thánh Tòa: Tòa Thánh Chiếu Minh Long Châu.
(21) Thính tùng 聽 從: Nghe và tuân lệnh hành theo.
TÒA THÁNH LONG CHÂU – 121
(Tiếp theo: 11.- LỄ ĐOAN NGỌ 1961)